Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết

Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết (Bài số 1) Dàn ý 1, Mở bài: Giới thiệu khái quát về bánh chưng ngày Tết. 2, Thân bài. ...

Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết (Bài số 1)


Dàn ý

1, Mở bài: Giới thiệu khái quát về bánh chưng ngày Tết.

2, Thân bài.
- Nguồn gốc chiếc bánh chưng ngày Tết.
- Đặc điểm, cấu tạo chiếc bánh chưng.
+ Hình dáng: hình vuông
+ Lớp nhân bên trong : gạo, đỗ, thịt.
- Nguyên liệu cần chuẩn bị.
- Cách gói bánh.
- Cách luộc bánh.
- Cách thưởng thức bánh.
- Ý nghĩa và giá trị văn hóa của chiếc bánh chưng.

3, Kết bài: Nêu cảm nghĩ của bản thân.

Bài viết

Mỗi đất nước, mỗi dân tộc trên thế giới đều có những phong tục, những tập quán riêng biệt. Vào mỗi dịp lễ quan trọng, họ đều có những tập tục, các món ăn cổ truyền, dân gian khác nhau: lễ Tạ Ơn của Mĩ thì có gà tây, của Pháp thì có các loại bánh phô mai, pudding đặc sắc,... Nhưng nếu đòi hỏi một thức ăn vừa đẹp đẽ, vừa ngon lành, vừa bổ dưỡng, lại vừa mang truyền thống, những nét đẹp tinh túy, thanh cao nhất của dân tộc như chiếc bánh chưng xanh của Việt Nam thì không phải bất cứ dân tộc hay đất nước nào có thể có được. Từ ngàn đời nay, chiếc bánh chưng vẫn luôn được có mặt trong những dịp lễ, Tết của người dân Việt Nam.

Cứ mỗi năm, vào dịp Tết đến xuân về, đầu xuân năm mới, người người, nhà nhà lại đi sắm Tết, mua đủ những vật dụng, những đồ ăn trong những ngày Tết âm lịch. Và chiếc bánh trưng là không thể thiếu. Khi ăn những chiếc bánh chưng deo dẻo. mềm mềm. có bao giờ bạn tự hỏi, chiếc bánh chưng đã có từ bao giờ, nguồn gốc xuất xứ từ đâu? Chiếc bánh chưng đã có từ rất lâu đời, từ hàng nghìn năm trước đây. Theo tương truyền, từ đời vua thứ 6, đã có chiếc bánh chưng. Năm đó, do tuổi già sức yếu, vua Hùng đời thứ 6 có ý định muốn truyền ngôi cho các vị hoàng tử lại nói với họ ý định của ông và ông sẽ truyền ngôi cho hoàng tử nào tìm được món đồ quý giá, có đầy đủ tinh hoa, tinh túy nhất. Các hoàng tử nghe vậy, ai cũng nghĩ ra đủ các thứ đồ quý. Các chàng người lên rừng, người xuống biển, lệnh cho tất cả người hầu phải tìm ra những thứ quý giá nhất. Chỉ duy có hoàng tử út Lang Liêu là không biết phải tìm những gì. Tuy là hoàng tử, con vua nhưng Lang Liêu rất nghèo, mẹ chàng sau khi sinh ra chàng đã mất nên chàng cũng không nhận được tình cảm hay sự quan tâm nhiều của vua cha cũng như các vị huynh trưởng. Chính vì điều đó, khi về đến nhà, Lang Liêu cứ trằn trọc mãi, không biết nên làm thế nào, ruột rối như tơ vò tâm sự với vợ. Đêm hôm đó, khi đi ngủ, trong giấc mơ, Lang Liêu đã gặp được vị Thần Nông, thần đã khuyên Lang Liêu phải làm loại bánh tinh túy nhất từ gạo, từ muôn vị cuộc sống. Khi tỉnh dậy, Lang Liêu bắt tay vào làm ngay, làm ngay chiếc bánh dày tròn tượng trưng cho trời, chiếc bánh chưng vuông tượng trưng cho đất. Đến ngày, nhà vua lại triệu tập, các huynh cả đều mang đến cho vua toàn những thứ quý giá nhất : ngà voi, ngọc trai,..., mong được kế thừ ngôi vị. Thấy Lang Liêu chỉ mang hai thứ bánh đến, họ khinh suất. Đến khi vua Hùng nếm thử bánh, thấy vị ngọt ngọt, bùi bùi, hương vị trời đất như giao hòa, quyết định chọn lễ vật của Lang Liêu, cho chàng lên làm vua và phổ biến bánh với người dân. Từ đó, phong tục bánh chưng ngày Tết đã ra đời và kéo dài cho tới ngày nay.

Ngày nay, việc nấu bánh chưng vào ngày Tết như đã trở thành một thông lệ. Cứ đến Tết, người người, nhà nhà lại gói bánh chưng. Để gói ra được chiếc bánh chưng vuông vắn, xanh mướt không phải là điều đơn giản. Đầu tiên là chuẩn bị nguyên liệu: lá dong (phải chọn loại bánh tươi xanh, hay dùng để nấu bánh tẻ, kích cỡ không nhỏ quá, cũng không to quá), gạo nếp ( có thể tùy chọn nhưng loại nếp cái hoa vàng là loại gạo ngon nhất và thích hợp nhất để nấu bánh chưng ), thịt ( là loại thịt ba chỉ, ngon tươi và sạch), đậu xanh (có thể chọn loại có vỏ hoặc không có vỏ) và lại buộc (làm bằng giang, chẻ mỏng, to bản, có thể tự làm hoặc mua ở ngoài chợ). Cuối cùng là phải chuẩn bị nồi đun to, gạch kê nồi và củi lửa.

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu, ta bắt đầu gói bánh. Rửa sạch lá dong là việc đầu tiên, sau đó tước bỏ cuống lá, cắt đầu và cuối sao cho đẹp, rồi cuộn lại cho hết nước, lau khô lá. Gạo nếp phải đãi sạch rồi đổ vào thúng cho khô hẳn. Tiếp là đậu xanh, nếu đậu có vỏ thì ngâm nước rồi vo cho hết vỏ, còn nếu đậu đã bóc vỏ sẵn thì chỉ việc ngâm cho bở rồi cho vào nồi nấu chín, giã nhuyễn, nắm thành từng nắm đều nhau. Gạo nếp trước khi gói phải xóc muối, thịt ba chỉ thái dày từ 0,5-1cm, dài 4cm, phải ướp gia vị hạt tiêu vừa vặn để khi nấu lên sẽ dậy mùi thơm.

Cách gói bánh chưng đối với nhiều người có thể đơn giản nhưng đối với một số người khác, nó lại khó khăn. Gói bánh chưng muốn đẹp, thì phải có tay nghề. Đầu tiên, mỗi chiếc bánh chưng cần phải dùng ba lá dong, xếp hình chữ thập. Tiếp đó, cho gạo vào đầu tiên và san đều. Sau lớp gạo là lớp đậu bên trong, cũng san đều sau đó đặt thịt ba chỉ cho vào giữa. Sau đó tiếp tục cho thêm một lớp đậu nữa lên trên lớp thịt và cuối cùng là một lớp gạo. Chú ý không để nhân hở ra ngoài, Sau khi gói bánh xong phải nắn bánh cho vuông, rồi mới được buộc lạt vào bốn góc. Gói xong, úp từng đôi bánh thành một cặp, buộc chặt bằng lạt rồi lại dùng lạt buộc tiếp một đôi bánh khác. Khi đã xong xuôi đâu đấy, ta chuẩn bị cho công đoạn nấu bánh chưng.

Phải chuẩn bị gạch kê nồi đầu tiên, ba chồng gạch nhỏ ở ba góc nồi. Rồi đến củi lửa. Sau đó đặt nồi lên ba chồng gạch, rồi xếp bánh. Chú ý khi xếp bánh phải xếp dọc bánh. Cách xếp này vừa tiết kiệm diện tích nồi vừa giúp cho bánh dễ chín đều hơn. Sau đó nồi mới được cho nước và nhóm lửa. Người nấu bánh thường canh giờ tính từ lúc nước sôi và duy trì nước sôi liên tục, phải đun bánh từ 10-12 giờ. Trong quá trình đun, thi thoảng phải kiểm tra lương nước, nếu thấy nước cạn thì phải đổ thêm nước nóng để đảm bảo nước luôn ngập bánh. Không được đổ thêm nước nguội nếu không sẽ làm hỏng bánh. Nên để sẵn chậu nước bên cạnh nồi để tận dụng nhiệt lượng. Những chiếc bánh ở trên nên được lật giở để giúp bánh chín đều hơn. Sau khi đun bánh xong, vớt bánh ra vừa rửa qua nước để sạch lớp mỡ dính trên vỏ ( chỉ rửa lướt qua, không nên để bánh dưới dòng nước quá lâu nếu không nước sẽ tràn vào bên trong bánh ). Rửa bánh xong phải xếp bánh ngay ngắn trên một mặt phẳng, sau đó lấy một mặt phẳng khác đè lên trên để ép hết nước trong bánh ra ngoài ( chỉ nên ép trong 2-3 giờ đồng hồ nếu không bánh sẽ bị méo ). Sau đó, phải nắn bánh sao cho vuông, cho đẹp và vừa mắt. Để bảo quản bánh, ta nên treo bánh lên hoặc để nơi khô ráo, thoáng mát, tránh bị chuột khoét.

Bánh chưng rất ngon nếu được chế biến và thưởng thức đúng cách. Bóc bánh ra, phải nhẹ nhàng bóc lấy từng lớp vỏ xanh mướt, ta có thể thấy bánh nhìn rất đẹp, rất dẻo và rất xanh là bánh chưng đã đủ ngon. Cắt bánh, chúng ta có thể dùng luôn lạt buộc bánh, tùy cắt làm mấy khúc. Bánh chưng muốn đậm đà hơn có thể ăn kèm với giò lụa và cá kho.

Bánh chưng có rất nhiều loại : bánh chưng ngũ sắc, bánh chưng gấc, bánh chưng cốm,... Bánh chưng ngũ sắc là loại bánh chưng có 5 màu tương trưng cho : Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Bánh chưng
tuy có các loại khác nhau nhưng luôn mang trong mình cùng một ý nghĩa thiêng liêng : tương trưng cho đất mẹ bao la, có đầy đủ nguyên liệu gạo thịt tượng trưng cho muôn loài.

Vào ngày Tết, trên bàn thờ của mỗi gia đình đều không thể thiếu được chiếc bánh chưng. Chiếc bánh chưng là hương vị của Tết, thiếu bánh chưng như thiếu hẳn đi hương vị Tết.


Kỉ lục chiếc bánh chưng lớn nhất thuộc về chiếc bánh chưng được gói ở lễ hội Đền Hùng. Nó rất to, vĩ đại và đã được UNESCO công nhận là chiếc bánh chưng lớn nhất thế giới.

Bánh chưng là một sản vật quý giá mà ông cha ta truyền lại cho con cháu đời sau, là một nét đẹp văn hóa lâu đời. Nó là một thứ bánh hoàn hảo, không thể thiếu trong dịp lễ Tết của người miền Bắc nói riêng và toàn dân tộc Việt Nam nói chung. Nó là biểu tượng của tổ tiên, là một nét đẹp truyền thống cần phải gìn giữ và phát huy.

Thuyết minh về chiếc bánh chưng ngày Tết (bài số 2)


Dàn bài

1, Mở bài: Giới thiệu khái quát về chiếc bánh chưng ngày Tết.

2, Thân bài:
- Nguồn gốc lịch sử.
+ Chiếc bánh chưng ngày Tết ra đời vào thời Lang Liêu - con trai của vua Hùng đời thứ 6
+ Bánh chưng là tượng trưng cho đất, nhắc nhở con cháu đời sau phải biết nhớ đến truyền thống dân tộc.
- Đặc điểm cấu tạo chiếc bánh chưng ngày Tết.
+ Hình dáng: bánh hình vuông.
- Cách chuẩn bị nguyên liệu
+ Lá dong (loại lá to, xanh, đẹp )
+ Gạo nếp (nếp cái hoa vàng )
+ Đỗ xanh
+ Thịt lợn (thịt ba chỉ )
+ Lá giềng (giã lấy nước ướp lên gạo làm xanh bánh một cách tự nhiên )
+ Gia vị ( muối, hạt tiêu,.. )
+ Nồi (loại nồi to)
+ Củi, lửa, gạch.
- Cách gói bánh.
- Cách luộc bánh.

3, Kết bài: Cảm nghĩ chung về chiếc bánh chưng ngày Tết.

Bài làm

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán riêng biệt, thể hiện đặc chưng riêng của từng vùng miền. Và mỗi quốc gia đều có những món ăn truyền thống khác nhau: Hàn Quốc có kimpap, tokbokki, Nhật Bản có sushi,.... Còn Việt Nam thân yêu của chúng ta cũng có nền ẩm thực phong phú, đặc biệt là vào ngày Tết, hình ảnh chiếc bánh chưng, bánh tét là không thể thiếu. Bánh chưng, hoa đào là đại diện của miền Bắc và bánh tét, hoa mai thì lại là đặc trưng của miền Nam. Là một người con miền Bắc, em không thể quên hình ảnh của chiếc bánh chưng ngày Tết.

"Bánh chưng, bánh giầy" của Lang Liêu - người con trai của vua Hùng đời thứ 6, nhắc nhở con cháu đời sau phải nhớ đến truyền thống dân tộc tốt đẹp của người Việt ta. Theo quan niệm, chiếc bánh chưng là biếu tượng cho tinh hoa của đất, nhắc nhở về sự biết ơn của, tôn trọng mảnh đất đã nuôi sống con người Việt Nam ngàn đời nay cũng như nhấn mạnh vào quá trình hình thành dân tộc. Nhìn chiếc bánh chưng vuông vắn, xanh đẹp mắt, thơn dẻo, béo ngậy, bổ dưỡng, con dân đất Việt càng biết ơn thế hệ cha ông đi trước đã lưu truyền cho con cháu đời sau sản vật quý báu này.

Để làm ra một chiếc bánh chưng đạt chuẩn, đẹp mắt, ngon miệng, chúng ta phải chuẩn bị đủ những nguyên liệu sau : lá để gói bánh phải là lá dong, khâu chọn lá rất quan trọng, phải chọn loại lá to bản, dày lá, xanh đẹp và không bị rách. Tiếp đến là gạo nếp, để bánh chưng được ngon ta phải chọn loại gạo nếp cái hoa vàng, hạt gạo to, mẩy. Thịt lợn là thứ không thể thiếu, loại thịt ba chỉ ngon, tươi, sạch. Khi mua đỗ xanh, chúng ta có thể mua đỗ đãi rồi hoặc chưa đãi. Lạt buộc làm bằng giang, to bản, chẻ mỏng : có thể tự làm hay mua ngoài chợ đều được. Gia vị : mắm, muối, tiêu,.., nồi to để luộc bánh và cuối cùng là củi, lửa, gạch.

Tiếp theo là khâu chế biến nguyên liệu để gói bánh. Gói bánh chưng không hề đơn giản, nó đòi hỏi cần có sự khéo léo, tỉ mỉ, cần người làm phải gói bằng cả tâm huyết của mình thì mới tạo nên chiếc bánh đẹp. Đầu tiên là việc rửa lá, lá dong rửa sạch, tước bỏ cuống lá, cắt đầu và cuống cho đẹp sau đó cuộn lại cho hết nước rồi lau khô. Gạo nếp đãi sạch rồi đổ vào thúng cho khô, Lá giềng chúng ta cũng cần rửa sạch và giã lấy nước cốt, dùng nước cốt đó để trộn đều vào gạo cho thấm dần mà xanh của lá. Đậu xanh nếu có vỏ thì ngâm nước rồi vo cho hết vở, còn đậu đã bóc vỏ rồi thì ta chỉ cần ngâm cho bở sau đó đem vào nấu chín và giã nhuyễn. Gạo nếp trước khi gói phải xóc muối đều. Tiếp theo là thịt ba chỉ, thái miếng thịt đều nhau sau đó ướp gia vị : hạt tiêu, nước mắm, hành, mì chính vừa vặn, dậy mùi.

Mỗi chiếc bánh chưng khi gói cấn 3 chiếc lá xếp thành hình chữ thập. Cho gạo vào đầu tiên, san đều. Vì gạo chúng ta đã được ướp nước cốt lá giềng nên có màu xanh vô cùng đẹp mắt. Đỗ xanh san đều bên trong sau đó đặt thịt vào giữa, mỗi chiếc bánh thì cần 2 đến 3 miếng thịt là được. Tiếp thêm một lần đỗ phủ kín lên miếng thịt. Cuối cùng cho tiếp một lớp gạo trên cùng. Muốn bánh đẹp hơn thì ta có thể gói trong khuôn được làm bằng nhôm hoặc bằng gỗ, khuôn gỗ đã được đúc bằng với kích thước của chiếc bánh chưng nên dễ gói hơn là gói bằng tay. Khi gói thì ta phải gói từ lớp lá bên trong trước, nắn, chỉnh sao cho bánh vuông vức và không bị ép góc. Khi gói xong, ta dùng lạt buộc thành hình chữ thập là được.

Khâu gói bánh hoàn tất, ta sẽ chuẩn bị để cho bánh vào buộc. Xếp bánh thành từng cặp một. Cho bánh lần lượt vào nồi, nhớ phải xếp cho bánh đứng và xếp các cuống lá xuống dưới. Bắc nồi lên bếp đã kè gạch, cho củi lửa, rồi mới được cho nước. Trước khi cho nước cần chèn bánh. Lúc luộc, ban đầu là luộc to lửa cho bánh chín đều, về sau dần dần mới đun lửa nhỏ. Để ý lúc đun, nước gần cạn, ta phải đổ nước mới vào đun tiếp, cứ thế mấy lần nữa. Luộc bánh chưng cần thời gian khá lâu, khoảng hơn mười tiếng thì bánh mới chín. Khi tắt bếp, ta không vớt bánh luôn mà phải để ủ đến lúc âm ấm thì mới vớt. Vớt bánh ra, cho luôn vào một chậu nước lạnh để rửa, phải rửa nhanh không được ngâm lâu. Rửa xong, cuối cùng là khâu ép bánh, ép để cho bánh sạch hết những nước bên trong bánh bị ngấm vào, và treo từng cặp, từng cặp lên bếp.

Và đây là khoảng thời gian chúng ta thưởng thức thành quả lao động sau mười mấy tiếng đồng hồ, tỉ mỉ, vất vả. Bóc bánh ra, lớp gạo xanh nhìn rất đẹp, bánh mềm, dẻo, vừa, ngon, thịt và đỗ bên trong chín và dính lại với nhau rất ngon. Bánh chưng là loại bánh bổ dưỡng, ngon lành, là tinh hoa của đất. Khi ăn bánh, có thể ăn chung với cá kho mềm, hay giò lụa. Trong ngày Tết, nếu bánh ăn không hết thì ta có thể bỏ vào tủ lạnh để bảo quản, hoặc bỏ vào ngăn đá để đến bao giờ cũng không bị hỏng. Khi muốn ăn thì bỏ ra rồi rán lên.

Bánh chưng là sản phẩm quý báu của cha ông truyền lại cho con cháu muôn đời, một chiếc bánh hội tụ đủ những tinh hoa của đất, một thứ bánh hoàn hảo, không thể thiếu của một người dân miền Bắc trong ngày Tết.

Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết (Bài số 3)



Trong chúng ta, chắc hẳn ai cũng một lần được nghe kể về sự tích “Bánh chưng, bánh dày”, hai loại bánh mà Lang Liêu đã sáng tạo ra để dâng lên vua cha, và nhờ hai loại bánh này mà Lang Liêu đã được vua cha tin tưởng và nhường lại ngôi báu cho chàng. Cũng từ đó mà hai loại bánh này được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, người dân thường làm bánh vào các dịp lễ hội, trong những ngày tết thì càng không thể vắng mặt. Ngày nay, ngay cả khi xã hội đã vô cùng phát triển, đời sống tinh thần cũng như vật chất của người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện, song vào những ngày tết, chiếc bánh chưng vẫn là một loại bánh không thể thiếu trên bàn thờ Tổ tiên, trong bữa ăn ngày Tết.

Đã từ rất xa xưa, người ta cho rằng trong bữa cơm ngày Tết thì không thể thiếu “bánh chưng xanh, thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”. Phong tục này không biết có từ bao giờ nhưng xưa kia ông cha ta quan niệm, nếu thiếu một trong số những món ăn, vật dụng trên thì không khí tết sẽ không thể trọn vẹn. Phong tục này đến nay vẫn còn được người dân kế thừa và sử dụng trong những dịp Tết. Tuy nhiên, ngày nay tùy theo sở thích, khẩu vị của từng người, từng gia đình mà bữa cơm có thể có hoặc không có câu đối, dưa hành, thịt mỡ nhưng bánh chưng là món ăn cố hữu trong ngày Tết ở Việt Nam mà không một gia đình nào là không có.

Bánh chưng là loại bánh được ngon dẻo, thơm bùi được làm từ gạo nếp- một sản phẩm nông sản độc đáo của nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Để làm ra một chiếc bánh chưng, cần những nguyên liệu chính như: gạo nếp, đỗ xanh, thịt mỡ và các nguyên liệu khác như: hạt tiêu, lá dong, nạt tre hoặc nạt giang. Trong đó, gạo nếp được ngâm cho nở, cho dẻo; đỗ xanh được đãi cho xạch lớp vỏ xanh bên ngoài; thịt sẽ được trộn gia vị như: mắm, tiêu… sao cho phù hợp với khẩu vị của mỗi gia đình.

Sau khi chuẩn bị trong nguyên liệu thì những chiếc bánh chưng sẽ được gói bằng những chiếc lá dong xanh mướt và được buộc lại bằng những thanh nạt dẻo dai. Trong chiếc bánh chưng, thứ tự của nguyên liệu cũng cần đảm bảo một thứ tự nhất đinh, trong đó lớp bánh đầu tiên sẽ là gạo nếp, bên trên gạo nếp là đỗ xanh và thịt lợn, sau đó chiếc bánh lại được phủ lên một lớp gạo nếp nữa. Những chiếc bánh chưng sẽ được những bàn tay khéo léo gói lại vuông vức, đều nhau.

Một trong những việc làm mang đậm phong cách ngày Tết, đó chính là công việc luộc bánh chưng. Thông thường, để những chiếc bánh đủ độ dẻo, tơi, bùi thì cần phải được luộc trong khoảng thời gian từ năm đến tám tiếng đồng hồ. Trong khoảng thời gian ấy, những người trong gia đình sẽ cùng nhau ngồi bên bếp lửa hồng, vừa trông nồi bánh chưng, cắn hạt dưa đỏ và cùng chia sẻ với nhau câu chuyện năm cũ. Không khí xum vầy, đoàn tụ của những người trong gia đình gợi cho không khí ngày Tết trong mỗi gia đình thêm đầm ấp, vui tươi.

Sau khi chiếc bánh chưng đã chín, nó sẽ được vớt ra để nguội, sau đó mang lên bàn thờ ngày tết. Có những gia đình cẩn thận hơn thì sẽ dùng những chiếc lá dong tươi gói lại bên ngoài chiếc bánh để có được màu xanh hút mắt của lá dong. Bánh chưng là một loại bánh truyền thống của dân tộc, vì theo sự tích Lang Liêu khi xưa thì bánh chưng có hình vuông là biểu tượng cho mặt đất. Vì vậy, đặt những chiếc bánh chưng trên bàn thờ tổ tiên như cách để ghi nhớ, tôn kính, biết ơn của mình đối với những người thân đã khuất của mình.

Ngoài ra, những chiếc bánh chưng còn được dùng làm quà để đi biếu, làm quà mỗi dịp Tết. Đây cũng là một phong tục của người Việt Nam. Tết đến, mọi người sẽ đi tết những người thân trong gia đình, những người bạn bè những món quà chúc Tết, và trong món quà ấy, nếu có những chiếc bánh chưng thì người nhận sẽ cảm thấy rất vui. Bởi không phải giá trị vật chất mà người nhận ở đây đã cảm nhận được một món quà tinh thần đầy ý nghĩa, nó gần gũi và rất mực thân quen như chính mối quan hệ gắn bó giữa người tặng và người nhận vậy. Trong bữa cơm ngày Tết, những miếng bánh chưng thơm dịu hương vị của lúa nếp, vị ngọt thanh của đỗ xanh, vị đậm đà của những miếng thịt mỡ khiến cho bữa cơm ngày tết thêm ấp áp, chan hòa không khí xum vầy, đoàn viên.

Như vậy, chiếc bánh chưng không chỉ là một loại bánh truyền thống của dân tộc, không chỉ được kích thích vị giác bởi sự thơm ngon, đậm đà mà từ rất lâu rồi, chiếc bánh chưng cùng với cành đào hồng đã trở thành những biểu tượng, những vật không thể không có trong mỗi gia đình khi Tết đến, xuân sang. Nhắc đến Tết ắt hẳn hình ảnh chiếc bánh chưng xanh vuông vức sẽ ngay lập tức xuất hiện trong sự liên tưởng của mỗi người.


Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết (Bài số 4)


Theo truyền thuyết, đời vua Hùng Vương thứ 6, sau khi phá xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu xuân, vua họp các hoàng tử lại, bảo rằng: "Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho".

Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng. Riêng người con trai thứ 18 của Hùng Vương là Lang Liêu (tính tình thuần hậu, chí hiếu, song vì mẹ mất sớm, không có người mẹ chỉ vẽ cho) rất lo lắng không biết làm sao, bỗng nằm mơ thấy có vị Thần đến bảo: “Này con, vật trong trời đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình trời và đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình cha mẹ sinh thành." Lang Liêu vô cùng mừng rỡ và làm theo lời Thần dặn. Ông chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng trưng cho đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là bánh chưng. Ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng trưng cho trời, gọi là bánh dầỵ. Lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon và có ý nghĩa, bèn truyền ngôi vua lại cho Lang Liêu. Kể từ đó, mỗi dịp đến Tết cổ truyền, thì dân chúng đều làm bánh chưng và bánh dầy để dâng cúng tổ tiên, trời đất.

Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều người thuyết minh về chiếc bánh chưng với nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm, bánh chưng vẫn không hề thay đổi. Nguyên liệu làm nên bánh chưng phải là gạo nếp, một thứ gạo dẻo thơm được chắt lọc từ tinh hoa của trời đất. Bánh chưng còn tượng trưng cho một nền văn hóa lúa nước, một đất nước có bề dày truyền thống làm nông nghiệp. Nhân bánh gồm có: thịt lợn, nhưng phải có đủ cả bì, mỡ, nạc; đỗ xanh phải đãi thật sạch vỏ và đồ chín rồi sau đó giã nhuyễn và nắm thành nắm để dễ gói. Lá dùng để gói bánh chưng phải là lá dong, một thứ lá có mùi thơm rất tự nhiên. Lạt dùng để buộc phải được chẻ những cây tre có độ dẻo tốt.

Độc đáo hơn nữa, khi bánh phải “chưng” (ngày nay, người ta thường gọi là luộc) trong một thời gian khá dài khoảng 12 tiếng và chỉ được để lửa râm râm, bánh mới ngon. Khi bánh đã được luộc chín thì sự hòa trộn của gạo, thịt, đỗ và cả lá bánh tạo nên một thứ hương vị thật thanh tao, thơm mát, đó chính là hương vị của sự hiếu thảo…

Trong những ngày Tết cổ truyền, không có gia đình Việt Nam nào lại thiếu vắng những chiếc bánh chưng xanh trên bàn thờ, trên mâm cúng ông bà, tổ tiên. Ngày nay, cuộc sống ngày càng bận rộn nên mọi nhà có thể tự làm hoặc được mua. Nhưng cho dù mua hay tự làm thì bánh chưng vẫn là một nét đẹp lâu đời không gì thay thế được trong văn hoá tâm linh của người Việt. Trong tâm khảm của những người Việt xa quê, bánh chưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa và sức sống mãnh liệt của nó. Ngay tiểu bang California ở Mỹ là nơi có nhiều người Việt sinh sống. Vào đầu năm ngoái, Việt kiều ở đây rất vui khi được Ban Y tế California nhận định: “Bánh chưng là một loại văn hoá ẩm thực ngàn xưa của người Việt Nam”, nên Ban này đã thông qua dự luật AB-2214 về việc cho phép bán bánh chưng.

Hay ở Đức, nếu ai đã từng gặp bất kỳ bà mẹ Việt Nam nào hiện đang sinh sống ở đây, đều được họ chia sẻ sự trống vắng và nỗi nhớ quê hương quay quắt mỗi dịp xuân về. Vì ngày Tết Việt Nam thường rơi vào những ngày con cháu họ bận đi làm, không thể đoàn tụ đông vui, nên hễ có dịp sum họp gia đình như lễ tạ ơn, lễ giáng sinh… thì các bà mẹ xa quê xem đó là ngày Tết của mình. Vào những dịp như vậy thì các bà đều làm bánh tét, bánh chưng để nhớ về quê cha, đất tổ.

Thuyết minh về chiếc bánh chưng đã nhiều nhưng không ai có thể phủ nhận, đó là một món ăn độc đáo và có một không hai của dân tộc. Bánh chưng là một trong những bằng chứng cụ thể chứng tỏ văn hóa ẩm thực Việt Nam có nhiều tiềm năng khiến đất nước ta trở thành một cường quốc về văn hóa ẩm thực.


Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết (Bài số 5)


Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa đặc trưng, một nền ẩm thực độc đáo. Đối với đất nước Hàn quốc có kim chi cũng với những loại rau muối khác. Hay Pháp nổi tiếng với những món bánh cupcake thơm ngậy. Ẩm thực là một nét văn hóa đặc trưng mà không quốc gia nào có được. Ẩm thực cũng là một đặc điểm thu hút du khách. Ẩm thực Việt trong con mắt du khách luôn tạo một sự hứng thú và tò mò. Một trong những điểm thu hút khách du lịch tại Việt Nam chính là nền âm thực ấy.

Ẩm thực Việt rất phong phú và đa dạng, được chia ra nhiều thể loại khác nhau. Nổi bật có ẩm thực truyền thống, ẩm thực vùng miền, ẩm thực cung đình, ẩm thực đường phố… Mỗi loại lại có nét riêng. Đối với ẩm thực truyền thống, có một món ăn mà không thể không kể đến đó chính là bánh chưng.

Là một món ăn truyền thống của người Việt, bánh chưng (bánh tét) được ví như linh hồn của bữa cơm ngày trọng đại, đặc biệt là ngày tết. Bánh chưng được người Việt sáng tạo ra gắn liền với sự tích bánh chưng bánh giầy. Sự tích liên quan đến một vị vua Hùng đời thứ sáu. Ông đã nghĩ ra cách chế biến bánh chưng và bánh giầy để dâng lên vua cha và được nhường ngôi. Từ đó đến nay, bánh chưng đã trở thành món ăn quen thuộc của các gia đình mỗi dịp tết đến xuân về. Bánh chưng được làm một cách khá cầu kì. Đầu tiên là chọn nguyên liệu để làm bánh. Nguyên liệu làm bánh bao gồm lá rong, gạo nếp, đỗ xanh, thịt ba chỉ, lạt buộc, một số gia vị thông thường, đạc biệt không thể thiếu hạt tiêu. Trước tiên là lá rong. Lá rong là một loại lá được trồng rất nhiều ở miền bắc Việt Nam. Lá có màu xanh đậm, gân lá vòng cung rõ ràng, thường mọc thành từng bụi. Lá to có thể dài đến 80 cm. Lá có hình quạt. Lá rong dùng để làm vỏ bánh. Bởi tính chất dai khi nấu chín, đặc biệt là có mùi thơm và màu xanh bắt mắt, nên lá rong được chọn để làm vỏ của bánh chưng. Lá rong khi cắt hoặc mua sẽ được đem hơ qua lửa (nướng qua) hoặc phơi nắng cho mềm, tránh rách khi gói bánh. Sau đó, lá rong tiếp tục được cắt bớt cuống lá cũng như sống gân lá chính giữa và rửa sạch. Vậy là nguyên liệu để làm vỏ bánh đã sơ chế xong. Tiếp theo đến phần bánh. Đầu tiên là gạo nếp. Gạo nếp là một loại gạo có hàm lượng amilopectin rất cao khoảng 90% chính vì vậy nó làm cho gạo nếp khi được nấu chín sẽ rất dẻo, đặc biệt có mùi thơm rất hấp dẫn. Dựa vào tính chất này nên người ta chọn gạo nếp để làm bánh chưng. Gạo nếp sẽ được ngâm trong nước khoảng 5 tiếng, sau đó vo sạch, nêm muối vừa ăn. GẠo là thế, đỗ xanh cũng được chuẩn bị kĩ càng. Đỗ xanh là loại đỗ có màu vàng tươi, rất thơm khi nấu chín. Thường người gói bánh sẽ chọn loại đỗ xanh đã bóc vỏ để tiết kiệm thời gian sơ chế. Loại đỗ này rất dễ dàng mua được tại các siêu thị cũng như cửa hàng tạp hóa. Đỗ sau khi mua về sẽ được ngâm với nước khoảng 6 đến 7 tiếng để nở hoàn toàn. Nguyên liệu tiếp theo kể đến là thịt ba chỉ. Thịt ba chỉ se được cắt miếng mỏng nhưng vuông, cạnh chừng 4 đến 5 cm tùy bánh to hay nhỏ. Thịt được ướp với gia vị thông thường và hạt tiêu. Hạt tiêu sẽ giúp miếng thịt đậm đà, thấm gia vị, thơm và đặc biệt là trung hòa các vị của gia vị khác khiến cho miếng thịt không bị ngậy quá. Nguyên liệu cuối cùng là lạt buộc. Lạt buộc được làm từ tre dẻo, thân tre chẻ mỏng rất dai, được mang đi ngâm nước hoặc luộc qua cho mềm dễ buộc. Lạt buộc được dùng để cố định bánh lại khi luộc. Nếu không có lạt buộc chiếc bánh không thể được hoàn tất. Sau khi sơ chế các nguyên liệu làm bánh, sẽ đến giai đoạn gói bánh.

Gói bánh chưng cần sự tỉ mỉ, cẩn thận cũng như khéo léo của người gói. Bánh sau khi gói phải vuông, lá không bị rách, không chặt quá cũng không lỏng quá. Đầu tiên, trải một lớp lá, tiếp đến là gạo nếp, lớp tiếp theo là đỗ xanh, rồi đến thịt lợn, rồi đỗ xanh, cuối cùng là gạo. Sau đó người gói sẽ dùng tay của mình gói cho lá rong bao chọn lấy phần nhân bánh, gấp cho vuông lại, cuối cùng là dùng lạt buộc cố định. Cái khó là ở chỗ, người gói phải nới lỏng sao cho bánh vuông mà không bị chặt quá cũng hư lỏng quá. Bởi nếu chặt quá, phần bánh sẽ chín không đều hoặc dẫn đến bánh không chín được. Còn nếu lỏng quá, các lớp nguyên liệu của bánh sẽ không cố định và lẫn lộn vào nhau gây mất thẩm mĩ cũng như mất ngon. Gói bánh có được đẹp hay không là dựa vào tay nghê của người gói bánh.

Công đoạn gói bánh đã xong đến khâu cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng. Đó chính là luộc bánh. Bánh chỉ ngon khi được nấu bằng củi khô, trong một nồi gang to và dày. Nấu bánh chưng thường rất lâu, khoảng 6 tiếng đông hồ. Bởi bánh cần được chín đều và mềm. Lửa để nấu bánh cũng không quá to lửa mà chỉ liu riu nhỏ. BÁnh khi được nấu chín sẽ được để nguội định hình lại hình dạng bánh và được sắt ra đĩa để mọi người cùng thưởng thức. Bóc vỏ bánh ra ta sẽ thất một màu xanh rất đẹp và mùi thơm hấp dẫn. Cắt bánh ra sẽ thấp từng lớp từng lớp nhân bên trong cực hấp dẫn, miếng thịt thơm béo ngậy, lớp gạo nếp chín mềm dẻo ngọt thơm lừng. Tất cả hòa quyện với nhau tạo nên một hương vị truyền thống.

Ngày xưa, bánh chưng chỉ có mặt mỗi dịp tết đến xuân về. Nhưng ngày nay, bất cứ lúc nào cũng có thể nhìn thấy hình ảnh chiếc bánh chưng. Cứ đến dịp lễ hội hoặc ngày trọng đại như cưới hỏi, bánh chưng có thể được đem vào thực đơn của mâm cơm gia đình. Bánh chưng rất nhiều chất dinh dưỡng, hàm lượng calo cao. Ngoài món bánh chưng luộc, người ta có thể biến tấu thành các món hấp dẫn khác như bánh chưng rán. bánh chưng có thể ăn kèm với những món mặn khắc để tăng thêm hương vị của món ăn.

Bánh chưng đã trở thành một nét văn hóa, một món ăn truyền thống và lâu đời ở Việt Nam. Nét độc đáo này đã góp phần làm đẹp hình ảnh Việt trong mắt bạn bè quốc tế. Dù ai xa quê cũng mong được về nhà bên nồi bánh chưng mỗi dịp giao thừa đón năm mới. 


Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết (Bài số 6)



Tết Nguyên Đán ở Việt Nam là cái Tết cổ truyền đã có tự ngàn xưa với: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh. Trên bàn thờ ngày Tết của mỗi nhà, nhất thiết phải có bánh chưng. Giai thoại kể rằng hoàng tử Lang Liêu con vua Hùng đã được thẩn linh mách bảo, dùng lá dong, gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn… làm ra thứ bánh này để cúng Trời Đất, Tiên Vương và dâng lên vua cha. Nhờ đó mà chàng được vua cha truyền lại cho ngôi báu. Cũng từ đấy, bánh chưng được dùng để cúng vào dịp Tết. Tục lệ tốt đẹp ấy còn tồn tại cho tới ngày nay.

Nhìn chiếc bánh chưng, ta thấy mộc mạc, giản dị vô cùng, nhưng để làm ra nó lại tốn không ít công phu. Cứ đến hàm bảy, hăm tám Tết là các bà phải lo đi chợ mua lá dong cùng với mấy bó lạt giang. Lá dong phải to bản, lành lặn. Tốt nhất là lá dong bánh tẻ, không già, không non thì gói bánh mới đẹp. Lạt giang chẻ sẵn, mỏng và mềm, màu vàng ngà, rất ăn ý với lá dong xanh. Gạo nếp cái hoa vàng vừa dẻo vừa thơm được ngâm từ đêm trước, đem xả rồi xóc cho ráo nước. Đậu xanh đãi sạch vỏ. Thịt lợn xắt miếng to cỡ nửa bàn tay ướp muối, tiêu, hành chó thấm. Lá dong đã được cắt cuống, rửa sạch, lau khô… Tất cả bày sẵn ra chiếc nong, chờ người gói.

Cái cách gói bánh chưng ngày Tết mới vui vẻ và đầm ấm làm sao! Cả nhà quây quần quanh bà. Bà trải lá ra mâm, đong một bát gạo đổ vào, dàn đều rồi đổ nửa bát đỗ, xếp hai miếng thịt, lại thêm nửa bát đỗ, một bát gạo nữa. Tay bà khéo léo đãi gạo che kín đỗ và thịt rồi nhẹ nhàng bẻ bốn góc lá cho vuông vức, sau đó xiết chặt từng chiếc lạt. Chẳng mấy chốc, chiếc bánh chưng đã được gói xong. Suốt một buổi sáng cặm cụi, bận rộn, bà đã gói hết thúng gạo. Bố tôi buộc hai cái thành một cặp rồi xếp vào chiếc nồi thật lớn, chuyên dùng để luộc bánh. Đám trẻ chúng tôi được bà gói cho mỗi đứa một chiếc bánh chưng be bé. Chùm bánh ấy để ở trên cùng và sẽ vớt ra trước nhất.

Phía góc sân, bốp lửa đã cháy đều. Năm nào, ông tôi hoặc bố tôi cũng giữ nhiệm vụ canh lửa, canh nước cho nồi bánh chưng. Những gộc tre, gộc củi khô tích trữ quanh năm giờ được đem ra đun. Ngọn lửa nhảy nhót réo ù ù, tàn than tí tách bắn ra xung quanh những chấm đỏ rực trông thật vui mắt. ông tôi bảo phải đun cho lửa cháy thật đều thì bánh mới rền, không bị hấy. Anh em tôi xúm xít bên ông, vừa hơ tay cho khỏi cóng, vừa nghe ông kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Đến những đoạn thú vị, ông cười khà khà, rung cả chòm râu bạc.

Khoảng tám giờ tối thì bố tôi dỡ bánh, xếp rải ra trên chiếc chõng tre ngoài hiên. Hơi nóng từ bánh bốc lên nghi ngút, toả ra một mùi thơm ngậy, nồng nàn. Bố tôi đã chuẩn bị hai tấm ván gỗ và chiếc cối đá để nén bánh.

Khó có thể tả nổi niềm sung sướng, hân hoan của lũ trẻ chúng tôi khi được nếm chiếc bánh chưng nhỏ xỉnh, nóng hổi. Nếp dẻo, đỗ bùi, thịt béo… ngon quá là ngon! Tưởng chừng như chẳng có thứ bánh nào ngon hơn thế!

Chiều ba mươi Tết, trên bàn thờ đèn nến sáng trưng, hương trầm nghi ngút, những cặp bánh chưng xanh được trân trọng bày bêh cạnh đĩa ngũ quả, hộp trà, hộp mứt, chai rượu… và mâm cỗ tất niên để cúng trời đất, tổ tiên, đón các cụ về ăn Tết cùng con cháu. Nỗi xúc động rưng rưng trong lòng mỗi người. Không khí thiêng liêng của ngày Tết thực sự bắt đầu.

COMMENTS

Name

Giải thích câu tục ngữ thương người như thể thương thân,1,Văn mẫu lớp 8,7,Văn mẫu THCS,28,Văn mẫu THPT,1,
ltr
item
Top Văn Mẫu - Các bài văn mẫu hay nhất: Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết
Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgZSEEWsKotZA75SSnOg92mL7GDeTrk5cNbdSlj_pmj3FoQlA9my83XMqPdNemgjGanbmqnvLCObjKXYPb5-hl5Dz40HAgL6lS35G8vkaYwRFqKY7BTj81GeZaocLdCtmkKtvZ4CmEomhPg/s640/thuy%25E1%25BA%25BFt+minh+v%25E1%25BB%2581+b%25C3%25A1nh+ch%25C6%25B0ng+ng%25C3%25A0y+t%25E1%25BA%25BFt.jpg
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgZSEEWsKotZA75SSnOg92mL7GDeTrk5cNbdSlj_pmj3FoQlA9my83XMqPdNemgjGanbmqnvLCObjKXYPb5-hl5Dz40HAgL6lS35G8vkaYwRFqKY7BTj81GeZaocLdCtmkKtvZ4CmEomhPg/s72-c/thuy%25E1%25BA%25BFt+minh+v%25E1%25BB%2581+b%25C3%25A1nh+ch%25C6%25B0ng+ng%25C3%25A0y+t%25E1%25BA%25BFt.jpg
Top Văn Mẫu - Các bài văn mẫu hay nhất
https://tranggiaytrangnet.blogspot.com/2017/03/thuyet-minh-ve-banh-chung-ngay-tet.html
https://tranggiaytrangnet.blogspot.com/
https://tranggiaytrangnet.blogspot.com/
https://tranggiaytrangnet.blogspot.com/2017/03/thuyet-minh-ve-banh-chung-ngay-tet.html
true
7228481024098866112
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts VIEW ALL Readmore Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS View All RECOMMENDED FOR YOU LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy