Thuyết minh về Văn Miếu - Quốc Tử Giám (mẫu số 1) Dàn bài 1, Mở bài: Giới thiệu khái quát về khu di tích, vị trí địa lí. 2,...
Dàn bài
1, Mở bài: Giới thiệu khái quát về khu di tích, vị trí địa lí.
2, Thân bài:
- Nguồn gốc ( lịch sử hình thành )
- Vị trí địa lí
- Kiến trúc
+ Chia làm bao nhiêu khu?
+ Quang cảnh các khu
- Giá trị văn hóa.
3, Kết bài: Cảm nghĩ của em về khu di tích đó.
Bài làm
Trong số hàng nghìn di tích lịch sử ở Hà Nội, Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long. Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam dựa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt. Với hơn 700 năm hoạt động, di tích này đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Đặc biệt đấy là địa điểm thu hút các du khách trong và ngoài nước đến Hà Nội và là nơi được chọn ghi dấu ấn những mốc quan trọng trong cuộc đời của nhiều người trong sự nghiệp, học hành.
Theo Đại Việt sử kí, vào mùa thu năm Canh Tuất ( 1070 ) vua Lý Thánh Tông cho khởi công xây dựng Văn Miếu để thờ các bậc hiền thánh, các vị nho gia có công với nước. Trong đó thờ Khổng Tử - người sáng lập ra nền Nho giáo và tư nghiệp, Quốc Tử, Chu Văn An - người thầy tiêu biểu đạo cao đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Sáu năm sau - 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu. Có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam, một trường Nho giáo cao cấp đào tạo nhân tài cho đất nước, là nơi tổ chức các kỳ thi của quốc gia. Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu sự chọn lựa đầu tiên của triều đình phong kiến Việt Nam về vấn đề giáo dục đào tạo con người Việt Nam theo mô hình Nho học Châu Á.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long xưa thuộc thôn Minh Giám tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương. Thời Pháp thuộc làm Thịnh Hoa, tổng Yên Hà huyện Hoàng Long tỉnh Hà Đông nay thuộc Hà Nội. Bốn bên đều có mặt phố, cổng chính là phố Quốc Tử Giám ( phía Nam ), phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu. Quần thể kiến trúc này có diện tích 54331 mét vuông bao gồm hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám có kiến trúc chủ thể là Văn Miếu nay thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám, trường học cao cấp đầu tiên ở Việt Nam.
Tọa lạc trên khuôn viên lớn hơn 54 nghìn kilômét vuông, khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám nằm giữa bốn dãy phố bên ngoài có tường xây tứ phía. Trong Văn Miếu chia ra là năm khu rõ rệt, mỗi khu đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau.
Khu thứ nhất: Từ cổng chính Văn Miếu vào khu nhập đạo theo đường thẳng tới cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là thành, Đức Môn và Đạt Tài Môn. Ở khu vực này trồng cây bóng mát gần kín mặt bằng và có bốn hồ nhỏ đăng đối hai bên trái, phải. Trong hồ được trồng hoa sen, hoa súng tạo cảnh quan càng thêm tươi đẹp.
Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến Khuê Văn Các ( do Đức Tiền Quân tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805 ). Khuê Văn Các là công trình kiến trúc tuy khổng lồ đồ sộ song tỉ lệ hài hòa và đẹp mắt. Kiến trúc gồm bốn trụ hình vuông bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp. Tầng trên có bốn cửa hình tròn, hàng lan can, con tiện và con san đỡ mái gỗ đơn giản, mộc mạc,.. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình tám mái, gờ mái và mặt mái phẳng. Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình, mặt trời tỏa tia sáng. Hình tương Khuê Văn Các mang tất cả những tinh tú của bầu trời tỏa xuống Trái Đất và trái đất nơi đây được tượng trưng hình vuông của Giếng Thiên Quang. Công trình mang vẻ đẹp sao Khuê, ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học. Đây là nơi thường được dùng làm nơi thưởng thức các sáng tác văn thơ văn từ cổ xưa tới nay. Hai bên phải trái Khuê Văn Các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dần vào hai khu bia tiến sĩ.
Khu thứ ba: gồm hồ Thiên Quang Tỉnh có hình vuông. Hai bên hồ là hai khu nhà bia tiến sĩ. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa, Hoàng Giáp, Tiến Sĩ. Tám mươi hai tấm bia tiến sĩ được dựng ở hai bên phải trải qua giếng Thiên Quang mỗi bên bốn mươi mốt tấm dựng thành hai hàng ngang mặt bia quay về phía giếng. Bốn mặt bờ sông, nền cao, giũa nền có bề, cửa đều trông thẳng xuống giếng, Đây là hai tòa dinh thờ bia xưa kia hàng năm xuân thì nhị kì trong Văn Miếu làm tế lễ thì ở đây cũng sửa lễ vật cúng bái các vị tiên nho của nước ta mà quý tính cao danh còn khắc viên bia đá, Từ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ ba đến khao cuối cùng là khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống năm thứ nhất ( 1787 ) tính cho đủ phải tới 124 khoa thi đình nếu chỉ kể các khoa thi thì cũng phải 117 khoa.thế nhưng do chiến tranh số bia chỉ còn là 82 tấm.
Khu thứ tư: là trung tâm chủ yếu của Văn Miếu gồm hai công trình lớn bố cục sông song và nối tiếp với nhau. Tòa nhà ngoài là Bái Đường, tòa trong là Thương Cung.
Khu thứ năm: là khu Thái Học trước kia đã có một thời kì đây là khu đền Khải thánh thờ bố mẹ Khổng Tử nhưng đã bị phá. Điều đáng mừng là vào năm 2000 thủ tướng chính phủ Việt Nam khởi công xây dựng khu nhà Thái Học, và hoàn thành năm 2003 làm cho khu di tích ngày càng hoàn chỉnh.
Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tử Phối. Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa. Đây chính là hình tượng rất đặc trưng của các đình, chùa, miếu,... Hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện sự hài hào giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự thành cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn thân luôn tương trợ giúp đỡ nhau trong hoạn nạn. Đấy chính là một tình bạn cao cả.
Ngày nay khu di tích đã trở thành một nơi tham quan du lịch nổi tiếng cho người trong và ngoài nước.
Có thể nói, Văn Miếu - Quốc Tử Giám là biểu tượng của tri thức văn hóa khát vọng trong con đường học tập của các sĩ tử nói riêng và con người Việt Nam nói chung là nét son thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Văn Miếu - Quốc Tử Giám là niềm tự hào của dân tộc Việt.
Thuyết minh về Văn Miếu - Quốc Tử Giám (mẫu số 2)
Văn Miếu – Quốc Tử Giám được coi là trường đại học cổ nhất Việt Nam, biểu tượng cho truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam. Cũng có thể coi là một trong những trường đại học đầu tiên trên thế giới, một quần thể di tích đệ nhất Hà thành.
Trải qua nhiều biến động của lịch sử và tự nhiên, đến nay Văn Miếu – Quốc Tử Giám vẫn giữ được dáng vẻ cổ kính với nhiều công trình kiến trúc có giá trị cao. Đó là Khuê văn các, điện Đại Thành và các hiện vật làm chứng tích của nghìn năm văn hiến như: tượng thờ, rồng đá, nghiên đá, bia tiến sĩ và những cây đa, cây đại cổthụ đã chứng kiến việc học hành, thi cử qua các triều đại lí, Trần, Lê… Các giá trị văn hóa tinh thần (phi vật thể) ẩn chứa trong văn hóa vật thểở mảnh đất địa linh nhân kiệt làm nên truyền thống tôn sư trọng đạo, tôn trọng nhân tài, hiếu học và học giỏi của dân tộc.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long thời nhà Lí. Văn Miếu – Quốc Tử Giám gồm hai di tích chính: Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết của Nho giáo, Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam và Quốc Tử Giám trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam. Với hơn 700 năm hoạt động (1076 – 1802) đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn MiếuQuốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kì thi.
Sử sách có chép Văn Miếu được xây dựng vào tháng 10 – 1070, (đời vua Lí Thánh Tông). Đến năm 1076, vua Lí Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, kề sau Văn Miếu, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả các học trò giỏi trong thiên hạ. Toàn bộ khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám ngày nay có diện tích 54.331 m2, bao gồm: Hồ Văn, vườn Giám và nội tự được bao quanh bằng tường gạch vồ. Bên trong (nội tự) có những lớp tường ngăn ra làm năm khu.
Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính đến cổng Đại Trung. Trên cổng chính có chữ Văn Miếu Môn. Đây là một kiến trúc cổng tam quan hai tầng, phía ngoài cổng có đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong cỏ đôi rồng đá thời Nguyễn. Cổng Đại Trung ba gian lợp ngói, hai bên là hai cổng nhỏ Thành Đức và Đạt Tài. Khu thứ hai: Nổi bật với Khuê Văn Các – một công trình kiến trúc độc đáo được xây dựng năm 1805 (triều Nguyễn), gồm 2 tầng, 8 mái, bốn mặt đều có cửa sổtròn với những con tiện tỏa ra bốn phía tượng trưng cho hình ảnh sao Khuê tỏa sáng. Hai bên (phải và trái) Khuê Văn là hai cổng Bí Văn và Súc Văn. Khuê Văn Các thường là nơi tổchức bình các bài văn thơ hay của các sĩ tử. Ngày nay, Khuê Văn Các còn được lấy làm biểu tượng của Thủ đô Hà Nội. Khu thử ba là từ gác Khuê Văn tới Đại Thành Môn, ở giữa khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tĩnh (giếng trời trong sáng) có tường bao quanh. Hai bên hồ là hai khu vườn bia, tức nơi lưu giữ 82 bia tiến sĩ dựng từ năm 1484 – 1780, ghi tên, quê quán của các vị tiến sĩ của 82 khoa thi. Tại đây, ta cóthể tìm thấy tên một số nhà chính trị, văn học, sử học nỗi tiếng như Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Nhậm, Lê quý Đôn, nhà toán học Lương Thế Vinh, ông tổ nghề in Lương NhưHộc… Đây chính là những di vật rất quý của khu di tích. Qua cửa Đại thành thì đến khu thứ tư, hay là Bái đường Văn Miếu. Đó là một cái sân rộng, lát gạch bát. Hai bên là hai dãy nhà tả vu, hữu vu trước đây thờ bài vị của 72 học trò xuất sắc của Khổng Tử và Tư nghiệp Quốc Tử Giám cùng các danh nhân văn hóa Việt Nam nổi tiếng thời Trần. Cuối sân là nhà Đại bái và hậu cung. Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái treo "Bích Ung đại chuông" (chuông lớn của nhà Giám), bên phải có một chiếc khánh đá. Chuông Bích Ung do Nguyễn Nghiễm đứng ra đúc năm 1768. Tấm khánh mặt trong có hai chữ Thọ Xương, mặt ngoài khắc bài minh viết kiểu chữ lệ nói về công dụng loại nhạc khí này. Khu thứ năm là Trường Quốc TửGiám cũ (nay là nhà Thái học). Tại đây, những triều đại coi "hiền tài là nguyên khí của quốc gia" đã tuyển chọn nhiều người tài giỏi, đỗ đạt cao, bỗ sung vào các chức thị độc, thị giảng, hữu tư giảng, tả tư giảng, thiếu phó, thiếu bảo để chăm lo việc giảng dạy, giải đáp, vừa giúp vua nâng cao tri thức mọi mặt. Nhiều "người một đời, thầy muôn đời" như Bùi Quốc Khải, Nguyễn Trù, Chu Văn An… đã từng vang tiếng giảng ở Quốc Tử Giám.
Đầu thế kỉ XIX, khi nhà Nguyễn dời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển làm đền Khải Thánh. Năm 1946 – 1947, giặc Pháp đã đốt trụi khu này. Năm 2000, công trình nhà Thái học được hoàn thành để chào mừng kỉ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Đây là nơi tôn vinh truyền thống văn hóa giáo dục của dân tộc, đặt tượng tưởng niệm ba vua Lí Thánh Tông, Lí Nhân Tông, Lê Thánh Tông và thầy Chu Văn An là những danh nhân có công lập Văn Miếu – Quốc Tử Giám, phát triển nền giáo dục Nho học Việt Nam.
Ấn tượng về Văn Miếu – Quốc Tử Giám còn là ở loại vật liệu xây dựng rất “Việt Nam”, đó là gỗ lim, gạch đất nung, ngói mũi hài mang đậm nét nghệ thuật của các triều Lê, Nguyễn. Kiến trúc cỗ xưa độc đáo ấy được ẩn dưới những tán cây cổ thụ hàng trăm năm mang đậm “chất thơ” lãng mạn, Văn Miếu-Quốc Tử Giám có thể xem như một chiếc cầu nối giữa Hà Nội xưa và nay. Góp phần làm giàu thêm cho kho tàng văn hóa của dân tộc là điểm đến hấp dẫn với khách du lịch trong nước và quốc tế.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám là một trong những biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, tinh hoa của văn hóa dân tộc, niềm tự hào của chúng ta hôm nay và mai sau, là tài sản quý giá của quốc gia, được Nhà nước công nhận để lưu giữ, tu bổ, tôn tạo và phát huy tác dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thuyết minh về Văn Miếu - Quốc Tử Giám (mẫu số 3)
Văn miếu Quốc Tử Giám di tích lịch sử cấp quốc gia đây cũng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam lưu giữ những con người xuất chúng của nền giáo dục nước nhà. Khi ghé thăm Hà Nội bạn nên ghé thăm di tích lịch sử này.
Văn Miếu được xây dựng từ thời của vua Lý Thánh Tông vào năm 1010, nơi này chọn là địa điểm học tập của các thái tử trong thời Lý. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông lập trường Quốc Tử Giám và đây cũng là trường đại học đầu tiên của nước ta từ thời phong kiến.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám di tích văn hóa – lịch sử với quy mô lớn và ghi dấu nhiều thành tích đáng tự hào của nước ta. Di tích có diện tích hơn 50.000m2 gồm : Hồ Văn, vườn giám, nội tự được bao quanh bằng tường gạch vồ. Phía trước cổng chính là tứ trụ, hai bên tứ trụ có hai bia “ Hạ mã”. Nội tự được chia làm năm khu vực, mỗi khu vực được phân chia là nơi dựng bia và thờ bài vị của nhiều học giả thành danh trên khắp cả nước. Họ đều đỗ đạt và có nhiều thành tích lưu danh trong lịch sử nước nhà.
Khi đến khu bia đá, bạn có thể tìm thấy nhiều tên tuổi danh nhân trong các sách sử Việt nam như nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Lê Qúy Đôn,… các bia đá ghi lại thân thế và công lao của các công thần Việt Nam trong từng thời kì khác nhau. Đây được xem là những giá trị vô giá được ghi nhận đã làm nên sự đa dạng về truyền thống văn hóa, giáo dục của nước nhà. Trên mỗi bia đá các hoa văn và văn tự còn rõ chữ. Chữ viết và phong cách trang trí mỗi dáng bia, đầu rùa đều mang dấu ấn riêng của từng thời đại.
Khi đến thăm Quốc Tử giám phải nhắc đến chiếc chuông Bích Ung do Nguyễn Nghiêm đúc năm 1768, chiếc chuông lớn mang nhiều giá trị lịch sử.
Văn Miếu Quốc tử giám là nơi đào tạo nhân tài cho giáo dục qua nhiều thế hệ tiếp theo như nhà Lê, Mạc Trần, Nguyễn…qua các thời đại trong lịch sử phong kiến đều quan trọng việc đào tạo những con người ưu tú cho đất nước chính vì vậy Văn Miếu Quốc tử giám tiếp tục duy trì và phát triển. Ngày nay, những sĩ tử trước khi tham gia các kì thi quan trọng đều đến đây để mong được sự may mắn, đỗ đạt thành công.
Vào tháng 3/2010 đã có 82 tấm bia Tiến sĩ triều Lê – Mạc tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Điều này giúp bảo tồn và lưu trữ những giá trị văn hóa, tinh thần đến con cháu đời sau.
Văn Miếu Quốc Tử Giám không chỉ là di tích lịch sử quan trọng của nước ta mà còn biểu trưng cho truyền thống hiếu học, tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam, đã và đang được nhà nước tu bổ, gìn giữ đến thế hệ mai sau.
Thuyết minh về Văn Miếu - Quốc Tử Giám (mẫu số 4)
Thủ đô Hà Nội có rất nhiều di tích lịch sử. Trong đó Văn Miếu Quốc Tử Giám là một trong những di tích tiêu biểu, ghi nhận những thành tựu văn hoá của Đại Việt đã ngót nghìn năm của Thăng Long cố đô.
Văn Miếu được xây dựng tháng 10 năm 1070 để làm nơi thờ các thánh hiền đạo Nho như: Khổng Tử, Mạnh Tử… những vị danh nho đáng kính được người đời vị nể tôn sùng. Sáu năm sau, năm 1076, nhà Quốc Tử Giám được xây dựng liền kề sau Văn Miếu. Ban đầu nơi đây dùng cho các hoàng tử đến học, sau mở rộng thu nhận thêm các học trò giỏi trong toàn quốc.
Đứng từ đường Quán Thánh bạn sẽ nhìn thấy Văn Miếu cổ xưa với lớp tường bao quanh bằng gạch, cổng chính được xây dựng theo điện hoàng môn với dòng chữ nho được khắc tạc đã phai màu theo thời gian: Văn Miếu Môn. Hai bên cổng là đôi rồng đá mang phong cách thời Lê sơ.
Từ phố xá tấp nập ồn ào, bước vào phía trong cổng Văn Miếu bạn sẽ cảm nhận được một không gian thoáng mát yên lành như bước vào cõi phật cõi tiên. Một khoảng sân rộng với nhiều tượng đá tạc chân dung các mãnh tướng sư tử, hổ… như gợi lại không khí linh thiêng oai hùng của lịch sử ngàn năm xưa bên những gốc si xanh già cổ thụ mấy trăm tuổi. Lối đi giữa dẫn đến cổng Đại Trung Môn, mở đầu cho khu thứ hai, hai bên còn có hai cổng nhỏ. Bạn đến đây muốn thắp nén nhang lạy tạ các thánh thần cầu ban phước lành trí tuệ anh minh thì hãy dừng chân tại Đại Trung Môn bên bát hương lớn đặt giữa cửa vào.
Tiếp sau Đại Trung Môn là Khuê Văn Các được xây dựng từ năm 1805, có kiến trúc đẹp, mang nhiều ý nghĩa và đã được chọn là biểu tượng chính thức cho thủ đô Hà Nội. Khu thứ ba là Khuê Văn Các tới Đại Thành Môn có tường bao quanh. Hai bên hồ là hai khu vườn bia, nơi dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ, những trạng nguyên khoa bảng ngày xưa. Hiện trong Văn Miếu còn lại 82 tấm bia tiến sĩ của 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Đây là những di vật quý nhất của Văn Miếu.
Bước qua cửa Đại Thành là tới khu thứ tư. Ở đây có sân rộng, hai bên là hai dãy Tả Vu và Hữu Vu, vốn dựng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà Đại Bái và Hậu Cung, kiến trúc đẹp và hoành tráng. Tại đây còn một số hiện vật quý: bên trái có chuông đúc năm 1786, bên phải có một tấm khánh đá, trên mặt khắc bài văn nói về công dụng của các loại nhạc khí này.
Sau khu Đại Bái là trường Quốc Tử Giám đời Lê, một loại trường Đại học đương thời. Khi nhà Nguyễn rời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển làm đồn Khải Thánh thờ song thân Khổng Tử, nhưng đền này đã bị hư hỏng trong chiến tranh. Nhà Thái Học đã được xây dựng lại vào dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội.
Người Việt Nam và du khách nước ngoài nhớ về Hà Nội tìm về Văn Miếu như tìm về chốn văn hiến ngàn năm của nước Việt. Chính vì vậy từ rất lâu Văn Miếu trở thành điểm du lịch phổ biến đối với du khách trong và ngoài nước.
Văn Miếu mang một nét đẹp văn hoá trong lịch sử của dân tộc ta, mang ý nghĩa biểu trưng cho tiến trình văn hoá của Việt Nam, là một bằng chứng về sự đóng góp của Việt Nam vào nền văn minh Nho giáo của khu vực và nền văn hoá mang ý nghĩa nhân văn toàn thế giới. Mỗi năm vào dịp đầu năm học những "trạng nguyên" thời nay được tụ hội về đây dâng nén hương thơm tưởng nhớ và biết ơn tới các danh Nho xưa, đồng thời như một sự báo công cùng ý nguyện kế tục phát huy truyền thống văn hiến của dân tộc.
Thuyết minh về Văn Miếu - Quốc Tử Giám (mẫu số 5)
Văn miếu Quốc Tử Giám là một trong số những di tích có ý nghĩa lịch sự quan trọng,gắn liền với sự kiện lịch sự có ý nghĩa như sự thành lập kinh đô Thăng Long. Không những vậy, đây là nơi có niên đại hàng nghìn năm lịch sử, qui mô lớn, được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, cho tới tận bây giờ, Văn Miếu- Quốc Tử Giám trở thành một địa điểm cho khách du lịch tham quan và hiểu thêm về văn hóa lịch sử của Việt Nam.
Hà nội là thủ đô của đất nước Việt Nam, ở đây còn lưu giữ những nét văn hóa và cả kiến trúc cảu thời xưa để lại.mang một vẻ đẹp vừa cổ kính lại hiện đại , Hà Nội ngày càng trở thành một điểm hội tụ nhiều nét đẹp văn hóa đặc sắc. Một trong số đó có Văn Miếu Quốc Tử Giám dù trải qua bao thăng trầm vẫn mang những vẻ đẹp mà không thể nào phủ nhận được.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám được nhà Lý xây dựng vào thế kỉ 11,nơi đây nhanh chóng trở thành nơi dạy học cho các hoàng tử và những người tài trong thiên hạ,không những thế đây còn là nơi thờ phụng những bậc hiền tài có công với nền giáo dục của đất nước và cũng là địa điểm tổ chức các kì thi của quốc gia, cao nhất là kì thi tiến sĩ. Hiện tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long xưa, thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Dù cuộc sống hiện đại có nhiều thứ thay đổi nhưng Văn Miếu không làm mất đi vẻ yên tĩnh, cổ kính vốn có.
Quần thể kiến trúc của Văn Miếu với diện tích 54331m² bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám.Hồ Văn nằm ở đối diện cổng chính Quốc Tử Giám, là một hồ nước trong, quanh bờ cây cối râm mát, giữa hồ có gò Kim Châu, khung cảnh rất yên bình, nên thơ giúp cho các sĩ tử giải tỏa bớt căng thẳng trước giờ thi. Dù trải qua nhiều lần bị phá hủy do chiến tranh..nhưng nó đã được trùng tu và khang trang hơn.
Tường gạch vồ là nơi để ngăn cách khu nội tự Văn Miếu – Quốc Tử Giám với vườn Giám.lối đi trong Văn Miếu được trải sỏi hoặc lát đá sạch sẽ tạo nên những con đường nhã nhặn. Từ cổng chính Văn Miếu Môn, vào khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng Đại Trung môn. Khu vực này người ta trồng cây cổ thụ nhằm che bóng mát gần kín mặt bằng và có bốn hồ nhỏ đăng đối hai bên phải trái. Trong hồ được trồng hoa sen, hoa súng tạo cho cảnh quan càng thêm tươi đẹp và thanh tịnh. Quanh hồ là những bức tường hoa để ngăn cách lối đi với hồ.
Nổi bật và cũng là nơi mà được mọi người chú ý nhất là bia Tiến sĩ và hồ nước vuông Thiên Quang .Sát bờ hồ là lối đi và những dãy bia đá trang nghiêm, cổ kính dựng thành hai khu Đông và Tây. Trong Văn Miếu có tất cả gồm 82 tấm bia ghi tên họ quê quán của những người đã đỗ Tiến sĩ triều Lê. Những bia này được đặt trên lưng rùa- chính là thần Kim Quy, là một vật biểu linh cho tinh thần, sức mạnh, sự yêu thương, đoàn kết của dân tộc.
Kế tiếp khu Cửa Đại Thành và qua đây là tới một sân rộng hàng ngàn mét vuông, lát gạch Bát Tràng. Ngày xưa đây chính là nơi mà các hoàng tử và những người tài trong thiên hạ được tổ chức lớp học nghe giảng đạo. Ngày nay đây chính là nơi tập trung tổ chức các sự kiện văn hóa lớn của Hà Nội và quốc gia. Ở gian chính của Thượng điện đặt ngai lớn, bên trong có bài vị và tượng đồng của Khổng Tử. Hai gian bên phải, trái đặt ngai thờ bốn vị Tăng Tử, Mạnh Tử, Nhan Tử và Tử Tư. Hai bên của sân là hai dãy Hữu Vu và Tả Vu, cũng là khu triển lãm, trưng bày, bán đồ lưu niệm cho khách tham quan.
Tiền đường và Hậu đường là phần cuối của Văn Miếu Quốc Tử Giám,nổi bật với công trình hoàn toàn mới được khởi công xây dựng ngày 13 – 7 – 1999. Đây là nơi trưng bày truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, đồng thời cũng là nơi tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, văn hoá nghệ thuật dân tộc. Không những thế hậu đường là kiến trúc gỗ hai tầng, đây là nơi tôn vinh Danh sư Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An và là nơi trưng bày về Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long và nền giáo dụ Nho học Việt Nam. Trên tầng hai ,đây là nơi dành cho nơi tôn thờ các danh nhân đã có công xây dựng Văn Miếu – Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục Nho học Việt Nam bao gồm vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.
Quần thể Văn Miếu – Quốc Tử Giám được xây dựng dựa trên việc kết hợp hài hòa giữa kiến trúc Phật Giáo, Nho giáo và văn hóa dân gian Việt Nam. Những nét đặc trưng của Văn Miếu càng khiến nó có một sức hút kì lạ. Đây vừa là biểu tượng của tri thức, văn hóa, khát vọng trong con đường học tập của các sĩ tử nói riêng và con người Việt nam nói chung, vừa là nét son thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.


COMMENTS