Thuyết minh về cây tre (mẫu số 1) Tre xanh Xanh tự bao giờ? Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh Thân gầy guộc, lá mong manh M...

Thuyết minh về cây tre (mẫu số 1)
Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu
Đã từ rất lâu tre Việt Nam đã đi vào thi ca như một hình tượng cho sự kiên cường bất khuất. Trở thành hình ảnh đại diện cho dân tinh thần và ý chí của dân tộc Việt.
Tre góp một phần công sức không nhỏ trong việc tạo dựng thành lũy và bảo vệ xóm làng. Làng quê Việt Nam sẽ không còn thanh bình và đẹp đẽ đến thế nếu thiếu vắng đi hình ảnh của lũy tre làng xanh thăm thẳm.
Tre là một loại cây thường sống theo bụi, thành hàng, thành lũy. Bởi thế mà người ta luôn gọi là lũy tre là vì thế. Thân cây tre thẳng, tròn thường có hướng vươn lên cao. Lá tre mỏng, dẹt và nhọn nhưng cạnh lá lại có phần sắc bén. Thậm chí nếu không cẩn thận lá tre có thể cứa đứt tay người cầm.
Tre là một nhóm thực vật đa niên, thân gỗ, là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa một lần duy nhất vào lúc cuối đời. Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất. Tre Việt Nam có 7 loại là: tre mạnh tông, tre gai, tầm vông, tre vàng sọc, tre mỡ, tre tàu và trúc. Tre xanh lúc còn sống có màu xanh mượt, đốt dải và bóng nhẵn, đường kính của thân tre trưởng thành khoảng tư 6 đến 8cm. Cao không đến 10m. Tre gai kích thước ốm và thấp hơn, lá cũng mỏng manh hơn nhưng ở mỗi đốt tre mọc ra rất nhiều nhánh gai, sắc, nông dân thường trồng thành hàng rào chống trộm. Tre ngà là loại tre có thân sọc vàng xen lẫn với sọc xanh rất đẹp. Người ta thường trồng làm cảnh Tre rừng, mọc hoang trong rừng nên thường không tươi tốt lắm. Ngược lại, lồ ô, tầm vông là loại tre rừng khổng lồ, bề ngang và bề cao của nó gấp hai, ba lần tre xanh. Nó mọc thành từng bụi, từng hàng như rừng trong vùng đất hoang. Người ta đốn lấy gỗ làm nhà tranh, nhà sàn rất chắc chắn. Lồ ô to lớn bao nhiêu thì trúc lại mảnh mai, yếu ớt bấy nhiêu vì thân rỗng và kích thước nhỏ bé. Có hai loại trúc là trúc xanh và trúc vàng. Gần đây nước ta có nhập thêm một ít trúc kiểng gọi là trúc Nhật. Những cây kiểng này có hình dáng đặc biệt, thân màu vàng óng, lá xanh mượt mà rất được mọi người ưa chuộng, trồng làm cảnh và thường bày ở mái hiên, phòng khách.
Tre được sử dụng làm cột kèo để dựng nhà, làm đũa, làm máng nước, rổ rá, làm vật dụng nông nghiệp. Tre trồng làm hàng rào. Tre khô làm củi đun. Thân tre chẻ nhỏ để nhóm bếp rất đượm lửa. Lá tre thường được người miền Nam lấy để gói bánh tro vào dịp lễ giết sâu bọ. Lạt tre dùng để cột bánh. Thân tre được dùng để làm đũa. Các thợ thủ công cũng đã tận dụng thân tre để đan thành giỏ tre, rổ tre.
Ngoài ra, ông bà ta còn nhìn cây tre để nghe ngóng về thời tiết: “Lá tre trôi lộc, mùa rét xộc đến”. Và từ để người xưa còn rút ra một quy luật sống của thiên nhiên và con người: “Tre già, măng mọc” tre chẻ ra làm nuộc lạt, trở thành một thứ không thể thiếu ở nhiều chỗ: khi gói bánh, bó rau hoặc lợp nhà. Ca dao cũng nhắc đến nuộc lạt: “Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”.
Từ bao đời nay, cây tre là người bạn gắn bó và gần gũi với người dân Việt Nam. Hiện nay cuộc sống ngày càng hiện đại và có nhiều đồ dùng là băng nhựa, inox xuất hiện. Nhưng người ta vẫn có khuynh hướng quay về với thiên nhiên. Ngày nay, nhiều người đã bỏ trồng lúa hoặc cây khoai, đốn cây tre để có chỗ xây nhà lầu, nhưng nếu một lúc nào đó, nước ta không còn một bóng tre thì đời sống sẽ khó khăn và buồn tẻ biết mấy! Tre đã cống hiến tất cả sự sống cho con người nên ta phải yêu quý và bảo vệ cây tre Việt Nam.
Thuyết minh về cây tre (mẫu số 2)
Từ bao đời nay, cây tre đã trở thành một phần trong cuộc sống của con người Việt Nam. Tre trở thành biểu tượng cho con người Việt Nam kiên cường, bất khuất, biểu tượng cho làng quê Việt Nam bình dị, đơn sơ.
Cây tre là loại cây thuộc họ lúa cùng nứa, vầu, trúc.... Không ai biết nguồn gốc chính xác của tre, chỉ biết rằng tre đã có từ lâu đời, gắn bó với người dân Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Tre xuất hiện trên khắp mọi miền tổ quốc, đặc biệt ở vùng nông thôn.
Tre có nhiều loại: tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên,... Tre họ lúa nên có thân rễ chùm, bám sâu vào lòng đất giúp cây đứng vững trước mưa gió vùi dập. Sống qua nhiều năm, sẽ có chồi mọc ra gọi là măng. Măng sẽ mọc thành cây tre lớn. Vì vậy, ngay khi tre khi còn bé đã mọc thẳng tắp lên đón ánh mặt trời. Thân tre, gầy guộc, hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Thân tre vốn là nhiều đốt ghép lại, có thể cao đến 10 -18m. Mỗi cây có khoảng 30 đốt. Lá tre mỏng manh, màu xanh, trông như con thuyền nan, trên mặt lá có những hình gân song song. Điều đặc biệt ở tre là chỉ ra hoa duy nhất một lần trong đời, khi nó ra hoa, vòng đời của nó cũng sẽ khép lại. Tre không kén chọn đất đai, thời tiết, mọc thành từng lũy, khóm bụi. Sức sống của tre khiến người ta kinh ngạc, ngưỡng mộ. Dù là vùng đá sỏi hay đất vôi bạc màu tre đều trưởng thành xanh tốt.
Tre có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với đất nước và con người Việt Nam. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tre xung phong, cùng con người chiến đấu, bảo vệ xóm làng, quê hương. Những ngày đất nước sơ khai, tre cùng thánh Gióng diệt giặc Ân bạo tàn, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. Trong cuộc chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã dùng chông tre đánh tan thuyền địch. Đến những năm kháng chiến chống Pháp và đánh Mĩ, tre tích cực tham gia vào kháng chiến, dựng thành lũy ngăn đạn đại bác, trở thành “pháo đài xanh”
Không chỉ đánh giặc giữ nước, tre còn gắn bó với nhân dân trong cả cuộc sống thường ngày. Làng quê Việt Nam từ xưa kia đã gắn với lũy tre xanh, những lũy tre dày chắn gió bão thiên tai cho cuộc sống yên bình. Tre làm nhà cửa, làm cần câu, vó cất tôm cất tép, và làm cả những cây cầu bắc qua sông, qua mương nước. Ông cha ta từng có một thời dùng tre để làm bàn, làm ghế, đan thúng, đan rổ, làm khung cửi, cái xa quay sợi, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, quạt nan, đôi đũa, cái tăm... Những đồ vật ấy vẫn còn lưu giữ đến tận hôm nay, chứng minh cho một nền văn minh nông nghiệp lâu đời. Mỗi dịp Tết đến, xuân về, cây nêu may mắn dựng lên trước cửa cũng làm từ thân tre. Tre còn được dùng trị thủy, giữ nước chống bão lũ trên những con đê.
Tre là nguyên liệu làm giấy viết, một số loài tre trúc được trồng làm cây cảnh, có giá trị thẩm mĩ cao. Người ta dùng ống tre để nấu cơm lam. Măng tre muối chua hoặc để nấu vịt, rất được yêu thích trong ẩm thực. Lá tre, thân tre, nước ở cây tre non, vỏ cây tre... đều là những vị thuốc quý. Lá tre vị nhạt, ngọt, tính hàn có tác dụng giải nhiệt, thanh tấm, tiêu đờm dùng chữa phát sốt, nhiễm khuẩn, ra mồ hôi. Nước tre non vị đắng ngọt, tính mát có tác dụng tiêu khát, trừ đờm, thanh nhiệt, vỏ cây tre (vị ngọt, tính lạnh. Có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, trừ phiền, an thai. Tre làm thành những cánh diều tuổi thơ bay cao cao mãi, làm thành sáo vi vu. Tre tỏa bóng mát, ngăn ánh nắng hè oi ả, để trẻ con vui đùa thỏa thích. Tre gắn với tuổi già, cho họ chiếc ống điếu hút thuốc làm vui.
Tre đi vào thơ ca, trở thành nguồn cảm hứng vô tận của các tác giả. Từ ca dao, tục ngữ đến những tác phẩm văn học như Cây tre Việt Nam nổi tiếng của Nguyễn Duy. Tre cgóp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến. Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, in sâu vào tâm hồn người Việt. Tre níu tay nhau đứng bên lăng Bác, canh giữ cho giấc ngủ ngàn thu của Người. Tre trở thành biểu tượng cho con người Việt Nam, để rôi mỗi khi đi xa, người ta vẫn bồi hồi nhớ về những bóng tre xanh.
Thời gian trôi đi, cuộc sống hiện đại đã có nhiều đổi thay, tre cũng không còn xanh ngát như ngày trước. Nhưng cây tre mãi mãi là một phần của cuộc sống con người Việt Nam, tượng trưng cho sự kiên cường bất khuất, đoàn kết của nhân dân ta.
Thuyết minh về cây tre (mẫu số 3)
“Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”
Bài thơ cho chúng ta thấy một loại cây gắn bó với những làng quê Việt Nam đó là cây tre. Cây tre không chỉ xuất hiện trong thơ mà nó còn xuất hiện ở các câu chuyện cổ tích như “cây tre trăm đốt”, “Thánh Gióng”.. tre còn được xuất hiện rất nhiều trong các câu ca dao, tục ngữ Việt Nam.
Qua những vần thơ trên ta cũng thấy được cây tre quê hươngđã có từ rất lâu đời, gắn bó với con người Việt qua hàng nghìn năm lịch sử và trong câu chuyện Thánh Gióng tre chính là thứ vũ khí đánh giặc thắng lợi. Cây tre xuất hiện khắp mọi miền Tổ Quốc từ đồng bằng hay đến vùng núi nơi đâu cũng thấy xuất hiện những khóm tre xanh. Cây tre là cây không kén chọn đất đai, khí hậu, môi trường chúng mọc thành từng bụi tua tủa và rất đẹp rễ cây này nối rễ của cây kia. Giống như trong bài thơ “Cây tre Việt Nam” Nguyễn Duy đã viết:
“Thân gầy guộc lá mong manh
Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu..”Đúng thế, cây tre là một loại cây có thân gầy guộc, hình ống rỗng bên trong, xanh màu lục rồi đậm dần về phía dưới gốc. Những chiếc cành tre bé nhỏ có rất nhiều gai, cùng với những chiếc lá tre mỏng gân lá song song hình lưỡi mác rất sắc. Cây tre chỉ ra hoa duy nhất một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi ra hoa. Đây là một loài cây đem lại rất nhiều lợi ích cho người dân như trong sinh hoạt: bóng tre dang rộng tỏa mát, trong vòng tre những ngôi nhà trở nên mát mẻ trong những ngầy hè nóng bức, trước đây những người nông dân họ thường trồng những khóm tre đầu làng khi đi làm mệt về họ sẽ nằm ngủ ngay dưới những gốc tre đó hoặc ngồi đó kể cho nhau nghe những câu chuyện.
Tre còn có công dụng làm nhà trước khi có bê tong và gạch như bây giờ, hay còn làm ra những chiếc đũa, rổ rá, nong, nia cho đến gường chiếu, trõng,… các ông cụ hút thuốc lào thì cây tre là một thứ không thể thiếu, khi cắt khúc ra thì tre trở thành một chiếc điếu cày hoàn mỹ. Không chỉ gắn liền với sinh hoạt tre còn là tre đồng chí, tre xung phong giữ làng giữ nước giữ mái nhà tranh,.. tre hi sinh để bảo vệ con người bảo vể Tổ Quốc Việt Nam.
Cây tre đã trở thành biểu tượng của làng quê Việt từ xa xưa và mãi đến ngày nay. Đây là một loài cây tuy bé nhỏ gầy gộc nhưng khi sống thành những khóm những búi thì lại có những sức mạnh không tưởng, những rễ cây quấn chặt vào nhau không gì có thể làm bật gốc dù là gió mưa hay bão bùng. Đây cũng chính là biểu thị cho truyền thống đoàn kết của nhân dân ta. Tre còn xuất hiện trong ca dao với chủ đề về tình yêu, tình vợ chồng:
“Em về cắt rạ đánh tranh
Chặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà
Sớm khuya hòa thuận đôi ta
Hơn ai gác tía lầu hoa một mình.”

COMMENTS